Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là danh hiệu vinh dự cao nhất của Nhà nước Việt Nam, trao tặng hoặc truy tặng cho các cá nhân, tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Danh hiệu này khởi nguồn từ Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ngày 19/5/1952, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 107/SL tuyên dương 7 anh hùng đầu tiên, gồm các chiến sĩ quân đội như Cù Chính Lan, La Văn Cầu và các anh hùng lao động như Trần Đại Nghĩa. Đến ngày 15/1/1970, danh hiệu chính thức được pháp điển hóa, đổi tên từ "Anh hùng quân đội" thành "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" như hiện nay. Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cũng đã tuyên dương 23 anh hùng giải phóng, trong đó có những phụ nữ tiêu biểu như Tạ Thị KiềuNguyễn Thị Út. Một chi tiết thú vị là danh hiệu này từng được trao cho người ngoại quốc duy nhất, ông Kostas Sarantidis (tức Nguyễn Văn Lập) người Hy Lạp, sau này nhập quốc tịch Việt Nam. Tính đến năm 1970, đã có 289 cá nhân và 85 tập thể được phong tặng, khẳng định ý nghĩa tôn vinh những cống hiến anh dũng, bất khuất trong sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước.